Thursday, July 10, 2025

John E. Steinbeck- ĐOÀN VIÊN (edition)


                một cảnh trong Drama Film The Grapes of Wrath 1940,
   
          Trời chưa rạng, vẫn còn một màn đêm xám thẩm cùng nhiều ánh sao trời lấp lánh. Trăng hạ tuần lên trễ, ánh sáng nhợt nhạt, mơ hồ, rời rạc. Tom Joad cùng người thầy Jim Casy cắm cúi bước nhanh theo con đường đầy dấu bánh xe máy cày cùng xe hơi hằn sâu lồi lõm. Con đường đó xuyên qua cánh đồng trồng toàn bông gòn. Phía tây còn tối thẳm, nửa trời phía đông sáng dần lúc bình minh từ từ xuất hiện. Đường chân trời đằng tây chưa ai thấy nhưng chân trời hướng đông rạng dần. Hai người im lặng bước nhanh. Mùi bụi đất bốc lên từ những bước chân vội vã.
   tiếng Thầy Casy:
            -Ta mong con còn nhớ đường. Thầy sợ chuyện sáng bạch ra thì ôi thôi hai chúng ta lại lạc mất vào cái xó xỉnh nào rồi.


      Cánh đồng bông như tỉnh giấc vội vàng cho một ngày mới. Bầy chim vỗ cánh. Chúng bắt đầu moi móc kiếm ăn trên mặt đất. Vài chú thỏ sợ hãi vụt phóng qua những hòn đất mới đào. Hai người tiếp tục bước. Tiếng chân nện thình thịch trên đường. Nhiều hòn đất khô bị nghiến rào rạo dưới gót giày, âm thanh nghe khác hẳn với bao tiếng động tự nhiên của đất trời (secret noisestrong buổi bình minh.

    Ngậm ngừ một lúc, Tom đáp:

                  -Con nhắm mắt mà đi cũng tới được đó thầy ạ. Đời con chỉ có một chuyện lầm đó là nghĩ sai về một người con gái. Thôi quên quách nàng ta đi, sắp tới nơi rồi. Lạc quái gì đâu thầy, con sinh ra ngay vùng này. Thuở bé, con từng nô đùa quanh đây. Chắc thầy thấy cái cây đằng kia? Cha con có lúc treo đầu con sói lên đó. Treo cho đến khi xác nó mục rả, và đem xuống, chỉ còn cái xác khô đét.

                - Lạy Chúa!  ước sao hôm nay MÁ con có nấu món gì. Bụng con trống hốc rồi đây!

            -Ta cũng thế, thầy Casy trả lời...con nhai thuốc không? nó giúp con bớt đói. Biết thế, chúng ta đừng đi sớm quá. Trời sáng đi hay hơn.

Ông ngừng nói, nhai một ít thuốc,
            -Tối qua ta ngủ khá ngon.
           
             -Chính ông điên Muley làm ra cả, Tom nhớ …chú đó làm con hoảng hồn, nhổm dậy …'Chào Tom ta đi đây, ta phải tới nơi ẩn náu của ta bây giờ ' ông còn khuyên tiếp… 'hai người tốt nhất nên đi ngay giờ, nên rời khỏi đất của họ trước khi trời hừng sáng' …  tánh ông quái dị thật, chuột đồng (gopher)  sống sao thì ông y vậy. Thầy nghĩ bọn Da Đỏ có thể theo rình và tóm ông, thầy có cho rằng ông ấy mất trí không?

            -Thầy không biết.

           - Con thấy đó, hôm qua chúng ta mới nhóm một ít lửa mà chiếc xe kia tới ngay. Bằng cách nào nhà con tan nát thế kia? Họ đang áp bức, lắm điều tệ hại kéo dài mới làm Muley điên lên như thế. Phải lũi quanh như con sói, điều này chắc làm ông càng lúc càng điên thôi. Không ngờ ông ta giết người thế càng làm chó càng lúc càng lục sục ráo riết. Thầy nói ra đây như điều tiên tri rằng Ông ta sẽ càng hung dữ, càng xa lánh loài người, con  hiểu không?

             -Không đâu thầy, Joad quả quyết… con nghĩ giờ này chú ấy rất sợ giáp mặt con người. Vừa rồi chú gặp chúng ta cũng là điều lạ. 
Chắc chúng ta tới nhà Bác John trước lúc mặt trời lên thầy ạ.

nhà Bác John 

   Hai người tiếp tục đi trong im lặng. Vài con cú ăn đêm về trễ, vội vàng bay trên đầu hai người tới hướng cái vựa. Mấy bộng cây, cái tháp nước, trú ẩn tránh ánh sáng ban ngày. Hướng đông càng rạng dần, thấy được những gốc bông gòn và màu đất xám đen.

                -Thật khổ, nếu đúng nhà con giờ này đang ngủ tại nhà Bác John. Thầy biết không?  Bác chỉ có một phòng ngủ và một chái bếp (cooking leanto), một cái vựa nhỏ tí teo. Nếu thế, nơi đó y như một ‘đống người’ hỗn độn.

Thầy cố nhớ:

            -Ta không chắc John có gia đình chưa? Hình như cô độc? ta chẳng nhớ nhiều về John.

            -Bác ấy cô đơn đến chết khiếp’(lonest goddamn) trên thế giới này thầy ạ, Joad đoan chắc.

            -Cũng thêm một kẻ khốn nạn đến điên khùng nữa (Crazy kind of son-of-bitch). Bác đó cũng giống chú Muley, mỗi người có vài cách điên khác nhau. Người ta có thể thấy Bác bất cứ nơi nào -say sưa tại Shawnee, đi tán đàn bà góa cách xa tới hai mươi dặm,  hay nơi làm việc với cây đèn dầu, rõ là điên mới thế. Ai cũng cho Bác không thọ lâu. Thường người cô độc ít ai sống lâu. Nhưng bác John lại nhiều tuổi hơn Pa. Bác càng năm càng cao và gầy, gầy guộc hơn cả Ông Nội.

Thầy đạo chợt ngắt lời:

             -Nhìn kìa, có ánh đèn lấp lánh như ánh bạc đằng kia con thấy không?.... hình như John chưa lấy vợ?

            -Ô, không, bác ấy có vợ. Điều này cho biết bác là hạng người có lối sống ra sao. Pa kể cho cháu nghe Bác lấy vợ trẻ nhưng vỏn vẹn bốn tháng. Sống bình thường trong một gia đình,  cho đến một đêm bà kêu đau  bụng, hối Bác nên tìm ngay bác sĩ. Bác vẫn điềm nhiên nói 'bà đau bụng là do ăn nhiều quá. Hãy uống một liều thuốc giảm đau này vào. Bụng bà nhiều thức ăn mới sinh ra chứng đau bụng thôi' Trưa hôm sau bà vợ không biết gì nữa, rồi bà bác mất khoảng bốn giờ chiều.

            -Chuyện gì ? thầy Casy thắc mắc… bị đầu độc hay bà ấy ăn nhằm gì?

            -Không phải thầy ạ. Có thứ gì bùng vỡ  trong người bà bác, có thể ruột thừa hay gì đó. Ôi, Bác John tuy mộc mạc nhưng chuyện đó làm bác quá đau đớn . Bác cho là tội lỗi của bác. Suốt thời gian sau, bác chẳng hề nói với ai một lời. Bác đi quanh vùng này như chẳng thấy ai, miệng lâm râm cầu nguyện. Mất hai năm, sau này bác có thay đổi, nhưng ‘hơi rồ’, chuyên làm phiền người khác do quá hay lo. Mỗi khi bọn nhỏ như cháu có đứa nào bị sán chòi hay đau bụng một tí là bác kêu bác sĩ, cuối cùng Pa phải nói, ‘xin bác đừng làm thế nữa. Con nít đứa nào cũng đau bụng như vậy’. Nỗi ám ảnh người vợ mất vì Bác, thật buồn cười. Bác lay hoay chuyện giúp gì đó cho mọi người,  như  tặng lũ nhỏ quà, thả gói đồ ăn trước nhà một người nào đó. Bác cho đi mọi thứ bác có, nhưng vẫn chưa thực sự hạnh phúc trong lòng.  Có đêm bác đi lang thang quanh vùng. Dầu sao, bác làm nông giỏi, đất đai của bác trông nom thật đẹp.

              -Thật tội nghiệp, vị thầy thương hại...một người cô đơn đầy đau khổ. Sau khi vợ ông mất bác có năng đi nhà thờ không?

             -Không, bác không đi, bác không muốn chạm mặt mọi người. Bác thích một mình. Con chưa thấy đứa trẻ nào không mừng điên lên khi bác tới. Đêm nào Bác tới nhà là đêm đó tụi con chắc mẫm bác ra về sẽ để lại một gói kẹo cao su bên thành giường. Tụi con xem Bác chẳng khác gì Đấng GiêsuToàn Năng vậy.

      Người thầy tiếp tục bước, đầu nhìn xuống, chẳng nói lại Tom. Ánh sáng ban mai càng làm cho trán ông sáng bóng, hai bàn tay đánh nhịp, từng bàn tay lần lượt soi ra ánh nắng theo bước chân đi.

   Tom cũng im lặng. Nhường như anh cho là đã bộc lộ nhiều điều quá riêng tư, thân thiết, về gia đình nên hơi hổ thẹn. Anh bước nhanh hơn, người thầy bước nhanh theo. Họ vừa thấy con gì xam xám đằng trước. Một con rắn chậm chạp luồn lách thân mình len qua hàng bông gòn để vào con đườngTom dừng lại cách nó một khoảng gần, anh chăm chú nhìn:


-Rắn Lồng đây mà (gopher snake), thôi cho nó đi đi.

  Hai người cùng lách qua, tránh con rắn,  xong tiếp tục đi.  Hướng đông, một ít màu bắt đầu hiện lên nền trời. Tiếp liền sau đó ánh bình minh bò lan khắp mặt đất. Màu xanh lục từ nhũng hàng bông gòn hiện rõ ràng xen màu xám nâu của đất. Khuôn mặt hai người giờ hết tối . Da mặt Joad xem chừng đậm thêm lúc ánh sáng ban mai lên cao.
    Joad thì thầm:
              - Khoảng giờ này là thời gian tốt nhất;  lúc nhỏ con thường thức dậy giờ này, đi bộ quanh đây. Cái gì đằng kia vậy?

       Một đàn chó đang đứng với nhau trên đường. Chúng theo nhau ve vản (in honor), đòi động dục với một con cái. Có năm con đực- giống lai, chăn cừu -lai chăn cừu Collie, nhưng tất cả chẳng còn thuần giống do đi hoang (freedom of social life). Chúng đang 'tán tỉnh'  con cái.  Ngửi ngửi, rồi thay nhau chạy tới gốc bông gòn, nhếch chân sau “một cách điệu bộ(ceremoniously) đái vào gốc cây, xong chạy lui ngửi tiếp. Họ đứng lại nhìn. Joad chợt cười lớn ra chiều thích thú,

               -Chúa ôi, Chúa ôi!

    Bầy chó sừng sộ, lông dựng đứng, xông vào quần thảo với nhau. Chỉ một con phối được với con cái.  Mọi việc xong xuôi, mấy con đực còn lại nhường đường,  tỏ vẻ thích thú, lưỡi chúng thè ra, nước dãi  nhỏ giọt.

    Hai người tiếp tục đi.

        - Chúa ôi, Joad coi bộ mừng… con tin rằng con đực vừa phối kia là con Flash của nhà con. Con tưởng nó chết rồi, ai dè, lại đây, Flash.

    Anh lại cười khoái trá,
                - Quái gì thế ? nếu ai gọi con, thì con cũng không nghe như thế. Chuyện này làm con nhớ Willy Feeley lúc hắn còn trẻ. Hắn thật rụt rè, một sự rụt rè quái lạ. Một ngày, hắn dắt con bò cái tơ cho bò của bác Graves phối giống. Ai cũng lãng đi ngoại trừ Elsie Graves chẳng rụt rè chút nào. Willy, đứng đó mặt đỏ bừng, nói không ra lời. Elsie nói 'tôi biết anh đến vì gì rồi; con bò đực nhà tôi chờ sẵn sau vựa kìa'
   -Ồ, họ dẫn con bò cái tới đó. Willy và Elsie ngồi chờ trên thành rào. Chỉ một lúc Willy cảm thấy khác lạ, mặt đỏ lên (feelin' purty fly) Elsie nhìn qua, cô ngạc nhiên… 'sao thế , Will?'
   -Willy rất nông nỗi, hắn ta khó lòng kềm được. 'Lạy Chúa, lạy Chúa' ước gì con được như thế' Elsie vội chụp ngay 'Sao lại không được? Willy, nó là con bò cái của anh kia mà.'

      Thầy đạo cười lạt,
                -Con biết , đó là chuyện khá hay ngoại trừ những người giảng đạo. Lúc ta ở đó chưa ai kể ra chuyện này, nhưng họ kể ra ta không thể cười được. Ta không thể nguyền rủa họ lúc đó. Giờ thì ta tha hồ nguyền rủa mọi chuyện nếu ta thích, bất cứ lúc nào ta cần, một người tốt cần nguyền rủa lời nói đó nếu cần.




    Vầng dương đỏ ối cao dần từ chân trời hướng đông. Bầy chim đất bắt đầu hót líu lo.

           Nhìn xemJoad la to... tháp nước của bác John kìa. Chưa thấy cối xay gió nhưng đúng là tháp nước  của bác John. Đó, nó hiện lên nền trời,  thầy thấy chưa?

     Vừa nói, chân anh vừa bước nhanh.

     -Không biết mọi người có đó không?

   Cái bể nước nặng nề đứng yên trên dốc. Joad càng bước, càng tung đám bụi lên cao ngang gối.

           -Không biết có MÁ đó không?

      Dần dà mấy cái chân  tháp nước hiện ra, cái nhà, cái thùng vuông nhỏ không sơn, trơ trụi, cái nhà vựa thấp lè tè, chật ních đồ đạc. Một làn khói đang vươn cao từ cái ống khói thiếc trên mái nhà. Trong sân, bàn ghế cũ, rác rưởi bỏ đống, mấy cái cánh quạt gió và động cơ cho cái cối xay gió, vạt giường, ghế, bàn bỏ xó, ngã nghiêng.

     - Chúa ôi! Thánh Thần Ôi! mọi người sửa soạn đi rồi !...Joad kêu.


       Một chiếc xe tải (truck) có thành hông cao, đậu sẵn trong sân từ lúc nào. Có thể trước đây nó là loại xe bốn cửa, phần giữa, người ta cắt đi một nửa xong họ ráp vào đó sàn xe tải. Tới gần, hai nguòi nghe rõ tiếng nện thình thịch vang ra từ trong sân. Mặt trời đã nhô lên khỏi chân trời, chiếu sáng chiếc xe. Một người đàn ông đang nện búa, ánh sáng lấp loáng theo nhịp gõ của ông ta. Ánh nắng mai chiếu lấp lánh vào cửa kính trước nhà. Tấm phong chắn gió sáng hẳn lên. Hai con gà mái đỏ, dưới ánh nắng mai sắc lông của chúng càng đỏ rực.

 -Xin chớ kêu lớn, Joad yêu cầu...chúng ta đi thật nhẹ vào nhà xem sao?

      Anh tiến nhanh tới bên rìa cánh đồng làm bụi bốc lên tận hông. Hai người kín đáo tiến vào sân. Nền đất khô cứng, chai lì, bóng loáng, vài cây cỏ hoang bò trên mặt, bụi bám vàng ố. Joad đi thật chậm,  như không muốn tiếp tục chút nào. Vị thầy chăm chú, nối theo dấu chân anh. Tom từ từ gần lại, rón rén , hồi hộp tới sát chiếc xe. Nó là chiếc xe bốn cửa  hiệu Hudson Super Six, bị cắt đôi bằng dụng cụ đục thép. Già Tom đứng trên sàn, ông đang đóng đinh cho hàng dây treo theo hai thành xe. Khuôn mặt bờm xờm râu bạc, ông mãi cặm cụi cúi xuống,  miệng ngậm mấy chiếc đinh 6 (six penny nail). Ông tiếp tục đặt tiếp một chiếc đinh, rồi nhát búa nện lên đó. Có tiếng nắp song kêu loảng xoảng và tiếng vòi vĩnh trẻ con từ trong nhà vang ra. Joad nhẹ nhàng tiến gần thân sau chiếc xe, anh dựa lưng vào đó. -Người cha nhìn qua hướng Joad nhưng chẳng thấy anh , ông tiếp tục đặt tiếp cái đinh khác rồi đóng vào. Bầy chim bồ câu bay ra từ cái tổ trên tháp nước. Chúng đảo một vòng xong, đậu lại trên rìa tháp nước, lố nhố nhìn xuống. Bầy bồ câu ba loài trắng, xanh, xám mang những bộ cánh óng ánh qua nắng mai.

    Ngón tay Joad móc vào thanh ngang dưới cùng, bên thành chiếc xe tải, anh ngước mắt nhìn cha già, tóc tai bạc dần theo năm tháng, đang cặm cụi trong xe. Lưỡi liếm làn môi dày của mình, anh khẻ kêu:

   -Pa!?
   -Sao nữa! lại ra đòi gì đây?
       Già Tom ‘làm ràm’ cứ tưởng ai trong nhà đi ra, miệng đang ngậm mấy chiếc đinh. Chiếc mũ đen chụp xuống, dơ bẩn. Cái vest cũ không còn hạt nút nào, mặc ngoài cái sơ mi xanh lao động cùng cái nịt to bản bằng da yên ngựa, khóa nịt đồng vuông, dùng cho quần jeans. Ông bận như thế nhiều năm khiến da và đồng cái nịt đều láng bóng. Đôi giày da nứt nẻ, đế bong lên, giống hình dạng con tàu, qua nhiều năm chịu đựng nắng nôi, ướt át cùng đất bụi. Tay áo sít sao với cánh tay, kéo xuống gần mấy bắp thịt nhô cao, mạnh khỏe. Phần bụng và hông chắc nịch trên hai chân thấp, dáng nặng nề vững chắc. Gương mặt ông vuông vắn qua hàm râu muối tiêu, tất cả nằm trên cái cằm cương nghị. Từ đó, bộ râu chơm chởm mọc ra, không bạc hoàn toàn, là nơi cũng cố cho bộ râu mọc mạnh thêm. Đám da trên xương gò má không râu, mang màu nâu của đá bọt biển. Mỗi lần nheo, quanh mắt ông xuất hiện nhiều đường nhăn. Đôi mắt nâu, màu nâu đen của cà phê. Con mắt sáng xưa chẳng còn khiến ông phải gập đầu về trước khi gắng nhìn một vật nào. Mấy chiếc đinh đang nhú ra qua đôi môi mỏng, hồng.

   Chiếc búa đưa cao giữ yên trong không khí, ông sắp đóng chiếc đinh khác. Chợt liếc về bên hông chiếc xe, phía Tom, ông thoáng bực bội do có "ai đó" cản trở công việc. Chiếc cằm nhọn hắt về trước kèm theo ánh mắt hướng về khuôn mặt Tom. Một thoáng linh tính bắt đầu báo động cho ông về những gì ông thấy. Cái búa từ từ hạ xuống, bàn tay trái lấy mấy chiếc đinh ra khỏi miệng...
Quá kinh ngạc cùng mừng rỡ, ông nói như tự hỏi chính mình...

              -Tommy đây mà... trong khoảnh khắc ông  hiểu ra ngay …Tommy về rồi!!!

      Miệng ông lần nữa, há hốc ra nhưng lại kèm ánh mắt chứa đầy lo ngại...

            -Tommy,  giọng ông thì thào...
con không vượt ngục chứ? con không phải trốn chứ?

      Già Tom gắng hết tâm trí nghe câu trả lời.

   -Không đời nàoTom nói ngay...con được làm giấy cam kết (Paroled) và được tự do rồi. Có giấy tờ đàng hoàng đây Pa.

  Tay anh nắm chặt thanh ngang của một bên hông chiếc xe tải, hướng nhìn lên.

    Già Tom nhẹ đặt chiếc búa lên sàn xe, bỏ đinh lại vào túi. Chân ông trèo qua thành xong, nhảy nhẹ nhàng xuống đất. Đứng cạnh đứa con trai phút đầu tự nhiên ông cảm thấy lạ lùng, bỡ ngỡ.

           -Tommy...chúng ta sắp đi California. Gia đình định viết thư cho con và nói điều đó.

   Giọng ông hơi nghi ngại,
            -Nhưng con về rồi. Con có thể đi cùng cả nhà, con có thể đi mà!
 Trong nhà vang ra tiếng nắp bình cà phê đậy lại. Già Tom nhìn xéo vào trong,
              - Hãy cho cả nhà ngạc nhiên chơi … mắt ông sáng lên, vui sướng.
           -MÁ con tinh thần suy sụp nhiều lắm do bà cho rằng không bao giờ gặp con lần nữa. Mắt bà nhìn như có ai chết không bằng. MÁ con hoàn toàn không muốn đi California vì  e sợ vĩnh viễn không còn thấy mặt con...

  Lại có tiếng nắp song loảng xoảng trong nhà.

        - Hãy làm cả nhà kinh ngạc đó nghe, Già Tom lập lại...con hãy vào nhà bình thường như chưa vắng nhà ngày nào. Xem MÁ con  nói gì cho biết.

    Cuối cùng ông đụng vào người Tom, nhưng chỉ chạm vào vai anh một cách rụt rè, thoáng chốc ông rút tay về ngay xong nhìn qua Jim Casy.

    Tom nói ngay:
           -Pa còn nhớ Thầy không Pa? Thầy cùng con đến đây đó.
   -Thầy cùng ở tù với con hả?
  -Không phải, con gặp thầy giữa đường. Thầy ở chỗ khác.
  Pa Tom kính cẩn bắt tay vị thầy đạo.
              -Rất hân hạnh gặp mặt thầy, chào thầy.

Thầy Casy đáp lại

            -Thật là vui khi tới được đây, thật là một ngày vui khi con trai được về nhà. Thật là ngày vui.

-Nào xin  tất cả vào nhà... Pa mời.
            -vào gặp những người thân yêu của cậu ấy... thầy Casy nhanh nhảu nói rõ thêm cho Già Tom.
            -Đêm qua hai chúng tôi có ghé lại căn nhà cũ của ông.

  Cằm Pa như ngẩng ra, ông đưa mắt huớng ra đường. Ông quay lại phía Tom:

        -Chúng ta cho MÁ con biết bằng cách nào đây nhỉ? 

Pa Tom hỏi, giọng hào hứng.

            -Giả thử ta đi vào và nói rằng 'nè mình ơi, có hai người muốn vào xin chút gì ăn sáng đây' hay con cứ thè thẹ đi vào đứng cạnh mẹ cho đến lúc bà nhìn ra ? Làm sao đây nhỉ ?

  Sắc mặt ông càng tỏ nét hưng phấn sinh động.

  -Thôi  đừng để MÁ quá xúc động, Pa ạ, chớ để mẹ con qua giật mình. 

Tom e ngại.


     Hai con chó chăn cừu, loại chó cẳng dài (rangy) mừng rỡ, lăn quăng, chạy tới.  Cho đến lúc nhận ra mùi người lạ, chúng lùi lại ngay, canh chừng, đuôi vẫy chầm chậm vu vơ vào không khí; mắt và mũi chúng đang đặt vào tình trạng cẩn trọng,  sẵn sàng phản ứng một cách hung tợn. Một trong hai con, rướn dài cổ, dần dần di động như sắp chạy, nó từ từ tiến lại hai chân của Tom hít thật mạnh. Nó bước lùi, đón chờ phản ứng của Pa. Con kia áng chừng ít can đảm bằng nó; thấy con gà đỏ lục tục đằng xa, nó liền bỏ chạy rượt theo. Tiếng gà kêu  "quang quác" mấy cái lông đỏ bay tứ tung. Con gà mái chạy trốn, cánh vỗ phành phạch bay thêm. Chú chó ngoái nhìn ba người, như hãnh diện xong nằm phịch xuống sân, đuôi thả lên nền đất vẻ thỏa mãn.

   Pa Tom thúc hối :

          -Thôi vào … vào nhà đi ! Mẹ con phải gặp con trước tiên. Để ta xem khi gặp con khuôn mặt bà ra sao. Vào đi con. Một phút nữa thôi, mẹ con sẽ kêu to cho gia đình ăn sáng. Ta mới vừa  nghe tiếng mẹ con xào thịt heo muối xong rồi.


Má Tom đang săn sóc Ông Bà Nội (hình trong bộ drama film 1940 The Grapes of Wrath)

      Nói xong, ông dẫn hai người vào nhà theo lối vào đầy đất bột. Nhà không hàng hiên; bước qua tầng cấp là đến cửa.  Có cái thớt gỗ đặt cạnh, mặt nó nham nhúa vì dùng nhiều năm. Ván vách lổm nhổm, nham nhúa, nhiều hạt gỗ lòi ra do cát cắt sâu vào lớp ván mềm. Mùi củi thông lan khắp không khí. Ba người đến sát cửa; ngửi được mùi thịt chiên,  bánh nướng, cùng mùi thơm đậm đà của cà phê kho đang sôi trong bình. Người cha bước lên trước dẫn đường, tấm thân to lớn của ông ngáng hai người lại. Ông nói lớn:

   -Má mầy ơi, có hai người lang thang ngoài đường ghé đây, họ có ý xin chút gì ăn sáng đây nè ?!!!



     MA' Tom nhìn ra tưởng người lạ

     Tom nghe tiếng mẹ vọng ra. Làm sao anh quên được giọng nói đều, trìu mến, thân mật, pha trộn chút gì chịu đựng khiêm nhường:

              -Xin mời vào đi, thức ăn nhiều lắm, bảo họ rửa tay nghe. Bánh mỳ xong rồi, tôi đang gắp thịt ra đây.

John Steinbeck - ĐOÀN VIÊN (PHẦN 2)

      tiếp theo phần I ...



Jane Darwell trong vai Má Tom Joad


...

Tiếng mỡ sôi xèo xèo trên bếp.


     Pa bước vào và tránh qua bên cho Tom nhìn rõ mặt mẹ mình. Bà đang gắp mấy lát thịt heo ba chỉ dài, cong queo ra từ chảo. Cửa lò nướng vẫn mở, bên trong một cái song đầy bánh bít -quy nướng đang chờ bưng. Bà ngước ra huớng cửa, ánh mặt trời sau lưng Tom, chỉ thấy một bóng đen xung quanh là một viền sáng màu vàng rực rỡ. Bà gật đầu vui vẻ:

               -Vào đây các vị, thật là may sáng nay tôi làm rất nhiều bánh.

    Tom vẫn đứng yên lặng ngắm mẹ mình. MÁ vẫn to con như vậy, nhưng không phì; vạm vở, sức mạnh để bao lâu có sức chăm con cùng làm lụng.



 Má vẫn mặc cái áo đầm truyền thống "Mẹ Hubbard " bằng vải xám, rộng thùng thình. Thời gian trước còn có hình hoa trên đó, nay hoa đó phai nhiều, họa hoằn còn lại vài ba vết nhỏ, nhàn nhạt trên nền vải cũ mèm. Cái áo đầm dài phủ đến mắt cá cùng đôi chân trần thô kệch, Má đang khéo léo, nhanh nhẹn lui tới trên sàn. Mái tóc bạc xám rời rạc của bà, cột sau đầu thành một túm lưa thưa. Đôi tay mạnh khỏe, đầy nốt đồi mồi, tay áo xắn tới khuỷu. Hai bàn tay đầy đặn, khéo léo chẳng kém gì con gái. Bà cố ngước nhìn ra hướng ánh nắng. Khuôn mặt không nét nào khờ khạo mà tự chủ, tử tế. Đôi mắt nâu vàng xem chừng đã đương đầu với bao tình huống khó khan,  đau đớn, thống khổ. Từng bước chịu đựng để vượt qua bao thử thách gian nan quá sức. Bà xem chừng thông hiểu, chấp nhận, hay ôm lấy phận sự  'nội tướng' (citadel) cả một gia đình, một 'thành lũy' không ai có thể dẫm nát được. Bởi Già Tom cùng bầy con không thể cảm nhận được niềm đau hay nỗi sợ hãi, ngoại trừ bà từng cảm nhận và tự thực hành cách chối bỏ sợ hãi cùng đớn đau cho chính mình. Và bởi vì, niềm vui nào đến trong nhà chỉ chờ xem vào bà. Bà đã tập được thói quen sẵn sàng tạo được nụ cười với mọi chuyện dù không mấy vui. Có điều quan trọng hơn cả vui vẻ, đó là tánh trầm tĩnh. Sự điềm đạm lệ thuộc vào tánh đó. Vị trí khiêm tốn nhưng quan trọng nhất cho bà. Tư cách cùng vẻ thuần hậu của bà tạo nên từ vị trí tuy khiêm tốn nhưng là trụ cột cho gia đình. Đó là vị trí của "người thầy thuốc"  mỗi khi đôi bàn tay của bà càng lúc càng trở nên chính xác, khéo léo, hoàn mỹ- là vị trí của "người trọng tài"  đó là lúc bà xét xử khách quan, không lầm lỗi, chẳng khác gì một vị nữ thần. Bà biết được lúc nào dao động bởi chuyện gia đình, và nếu như bà thực sự dao động hay tuyệt vọng thì lúc này gia đình sẽ chẳng còn đứng vững, khả năng một gia đinh đi làm được chắc cũng không còn.

      Giờ MÁ nhìn ra huớng sân tràn trề ánh nắng, cạnh cái bóng đen kia. Pa đang đứng gần dáng người lạ đó thúc hối, lắc vai người đó một cách thích thú:

              -Vào đi...xin 'Ông' vào đi ông van lên
    Mặt Tom hơi bẽn lẽn, anh bước qua ngạch cửa.

     Bà đang vui vẻ ngước lên bên cạnh cái chảo chiên thịt. Bàn tay bà từ từ hạ xuống, cái nĩa rơi đánh xoảng trên nền gỗ. Mắt bà mở rộng, con ngươi giãn ra. Miệng há hốc, hơi thở nặng nề, bà nhắm mắt lại:

           -Chúa ôi, Ôi con xin đội ơn Chúa!

    Đột nhiên mặt bà chuyển qua trạng thái đầy lo sợ:

              -Tommy !!! con không bị truy nã, con không vượt ngục chứ?

              -Không hề có chuyện đó má ơi! con được làm cam kết. Giấy tờ con đây nè!




   Vừa nói anh vỗ tay ngang ngực.
   Bà nhích lần tới Tom, hai chân trần chẳng nghe tiếng động, mặt bà tràn ngập ngạc nhiên. Bàn tay nhỏ nhắn sờ soạng vào cánh tay đứa con trai, cảm nhận từng bắp thịt khỏe mạnh. Ngón tay bà đưa lên sờ vào gò má anh y như động tác của một người mù. Thế là niềm vui của bà hôm nay đã bù lại cho ‘một núi’ buồn chồng chất bấy lâuMôi dưới Tom lọt giữa hai hàm răng, chợt cắn mạnh. Mắt người mẹ ngạc nhiên nhìn tia máu nhỏ bắn xuống môi anh. Bà chợt hiểu, tánh chủ động của bà lập tức trở lại trong người, bà buông tay xuống ngay. Hơi thở của bà mạnh hơn:

               -May quá, cả nhà sắp đi xa, một chút nữa là không gặp con rồi. Trời đất mênh mông sau này làm sao con có thể tìm ra gia đình được?

    Bà lượm lại chiếc nĩa, gạt bớt lớp mỡ đang sôi xong lấy ra mấy miếng thịt heo chiên đen, cong queo. Xong, bà đặt bình cà phê đang cạn lên  cạnh bếp.

   Già Tom giờ cười khúc khích,

              -Đây là đùa Má mầy một chút thôi nghe? hai cha con muốn lừa bà một tí, giờ xong rồi. Xem bà đứng sững thế kia. Yên lặng! coi chừng Ông Nội nghe sẽ tới đó. Nhìn như ai đã làm bà chết điếng người. Ông Nội cũng nổi điên và nói bậy bạ như lúc thằng Al  em con, dám bắn vào chiếc khinh khí cầu của quân đội . Tommy, ngày đó có chiếc khinh khí cầu to dài tới nửa dặm. Al lấy khẩu săn nai 30-30 và bắn vào nó. Nội lại la lên' đừng bắn, con chim đó, Al, đợi nó lớn lên rồi bắn; nói xong Ông lại nổi điên  nghĩ gì nói đó.

    MÁ chắc lưỡi rồi lấy trên kệ xuống chồng dĩa thiếc nho nhỏ.

    Tom nhớ ra vội hỏi:

               -Ông Nội đâu? Sao con không thấy 'Cụ Già điên’ hả Pa  (ol'devil)?

   Má để chồng dĩa lên bàn ăn, chồng tách cạnh đó. Bà trả lời, giọng chắc chắn:

           -Ô! Ông và Bà ngủ trong vựa. Già thì hay dậy nên sợ vấp té vào lũ nhỏ đó con à.

    Pa chen vào:

                -Đúng đó, đêm nào Ông cũng thức, đi lò mò như người điên. Ông té nhào lên em Winfield làm Winfield hét to. Ông tiểu ngay trong quần, càng lúc càng mất trí. Mới đây, Ông lại chận đường mọi người làm ầm ĩ trong nhà.

 Giọng cha Tom nhỏ dần theo tiếng chắc lưỡi.

                -À, nhà mình cũng có lúc rộn ràng. Có hôm cả nhà mình hét lên kết tội em AL, thật là cậu trai tự cao (smart aleck), em con nói,' Thật điên, Nội sao ông không chạy ra ngoài đi làm cướp biển đi? Ôi, câu nói càng làm Nội nổi khùng thêm bằng cách đi tìm súng. Đêm đó Al phải chạy trốn, ngủ ngoài đồng. Nhưng giờ thì Ông cùng Bà đều phải ra ngủ ngoài vựa cả.

   MÁ tiếp,
   
            -Hai người thức dậy và muốn ra ngoài gi nào giờ nào cũng được. Ba mầy hãy chạy ra vựa nói với Ông Bà Tommy về rồi. Nội cưng nó lắm.

             -Được thôi, Pa đồng ý ngay...đúng ra tôi chạy báo trước khi bà nhắc
.

   Ông vội ra cửa đi xuyên qua sân, hai tay vung vẫy thật cao.

   Tom nhìn theo cha mình, giọng nói của Má anh đưa anh về thực tại. Bà đang rót cà phê cho anh.

       -Tommy nè!

      Bà tránh nhìn lúc gọi con mình, giọng lưỡng lự, cùng chút gì rụt rè.

                          -Dạ?

    Giọng anh rụt rè thêm từ giọng hỏi rụt rè của người mẹ, sự lúng túng kỳ lạ. Mẹ và con đều biết mình nhút nhát, sự nhút nhát càng tăng khi càng tìm hiểu lẫn nhau.

              -Tommy à, Má cần phải hỏi con-con không bị điên chứ?
              -Má nói sao ? Điên hả ?
             -Con có bị đầu độc cho thành điên không ? Con không thù ghét ai chứ? Trong tù họ không làm ung thối con với bệnh điên chứ?

   Anh chỉ nhìn bên hông mẹ, ánh mắt nhiều thắc mắc, làm sao mẹ anh có thể biết chuyện kia?
                  -KH Ô..NGgiọng anh to hơn ...chỉ một lúc thôi má à, con chẳng tự hào giống mấy gã kia đâu. Con xua nó ra khỏi trí óc rồi. Chuyện gì vậy MÁ?

     Giờ bà nhìn kỹ con trai, miệng mở rộng, như muốn nghe rõ hơn, mắt bà như muốn đào bới để biết được nhiều hơn. Khuôn mặt bà đang trông đợi câu trả lời từng bị giấu diếm trong ngôn từ.  Giọng bà pha chút bối rối:

               -Má biết Purty Boy Floyd. Má biết mẹ cậu ấy. Họ đều là người tốt. Nhưng thật rủi cho cậu ta, đúng vậy, người tốt như cậu ấy đúng ra nên…

  Bà tạm dừng một lát, lời bà tiếp tục tuôn ra:

                  -Má không biết hết hoàn toàn trường hợp đó--nhưng có một điều má biết. Cậu ấy chỉ làm bậy một chuyện nhỏ thôi thế mà người ta làm tổn thương cậu ấy, bắt bớ, đánh đập đến nỗi phải trở thành điên dại. Rồi điều tệ hại tiếp cho cậu ta làm ra lại do chứng điên đó và cứ thế người ta tiếp tục làm tổn thương cùng hành hạ...Thế là cậu ta trở thành điên thật. Họ bắn như bắn một kẻ bất lương, và cậu bắn lại, thế là họ săn lùng như săn lùng con sói, cậu ta biến thành con thú rình rập chờ vồ mồi, tương tự con sói xám (lobo) vậy. Cậu ta điên thật sự, không là con trai, không phải con người nữa, lang thang như con thú hoang dại. Nhưng bà con biết cậu ta không bao giờ làm hại ai. Cậu ta chẳng hề điên với họ. Cuối cùng họ săn lùng ra và giết cậu ta mất. Chúng ta không quan tâm báo chí nói cậu ta xấu ra sao, mà vấn đề chúng ta cần biết chuyện đó xảy ra làm sao?

                                                               chó lobo (Mexican wolf)

   Bà ngưng nói, liếm làn môi khô, khuôn mặt bà nhuốm nét bi phẫn (aching question).

          -Má rất cần biết, Tommy. Họ hành hạ con nhiều lắm không ? Họ có làm con điên lên như chuyện má kể không?

  Đôi môi nặng nề của Tom kéo dài sâu qua hàm răng. Anh cúi xuống nhìn vào lòng bàn tay mình.
               -Không, con không giống trường hợp Má kể đâu.

  Ngưng một lát, Tom chăm chú nhìn những cái đinh gãy, lổm nhổm y vỏ sò.

                   -Suốt thời gian trong tù con gắng tránh xa mọi chuyện rắc rối như má kể. Nên con không quá điên như vậy.

    Bà mẹ thở phào,

        -Tạ ơn Chúa! 
bà nói trong hơi thở.
      Anh ngước lên nhanh:
            -Má, khi nào má cho con biết họ đã làm gì nhà ta vậy má?

  Bà tiến gần, đứng sát vào đứa con trai giọng trìu mến:

               -Tommy, đừng một mình dại dột đi chống họ làm gì. Người ta sẽ lùng con như săn một con sói. Tommy, má hằng nghĩ, mơ ước, và tự hỏi trong lòng. Họ nói, họ sẽ đuổi hàng trăm ngàn người như chúng ta ra khỏi vùng này. Nếu tất cả số người này đều điên hết, Tommy, khi đó họ sẽ không còn sức đâu để săn lùng được.

  Bà ngưng nói.

  Tommy ngước nhìn mẹ, mí mắt anh dần dà khép lại cho đến lúc chỉ còn một ngấn long lanh đọng trên hàng lông mi.

           -Ai cũng nghĩ vậy hả má? anh khẩn khoản hỏi.
              -Má chẳng rõ lắm. Ai cũng choáng váng về chuyện đó. Họ đi lanh quanh như người mê ngủ.

                cảnh trong phim- nhà Tom mừng đón Tom về (trái qua bác John, Noah anh Tom, Nội Tom, Pa Tom và Tom Joad)

 Ngoài sân vọng vào tiếng nói nghe như dê kêu, hay eo éo nghe như thứ ngôn ngữ cỗ xưa nào không ai hiểu được:

-  Pu-Raise Gawd fur vittory ! pu-raise Gawd fur vittory !

Tom quay người, mở miệng lớn cười.

            -Ô Bà Nội! cuối cùng bà cũng biết, cháu về nhà rồi bà Nội ơi...bà khác trước nhiều quá!

Mặt mẹ anh trở nên đanh lại, ánh mắt lạnh băng.

              -Má sẽ không bao giờ để cái nhà này thua cuộc dễ như vậy...má không bao giờ để gia đình này ra ở ngoài đường. Má không bao giờ bán bất cứ thứ gì...mấy người tới rồi kìa.

    Bà trở lui bếp đổ hết bánh bít quy nướng vào hai cái dĩa. Xong, bà rắc đều bột lên chảo mỡ để làm món sốt (gravy),hai bàn tay bà dính bột trắng phau. Xem mẹ làm một giây, Tom bước ra cửa.


    Bốn người tiến vào sân. Ông Nội đi trước, gầy còm, tả tơi nhưng nhanh nhẹn. Chân phải ông luôn phóng nhanh, vạt áo ngoài trật hết nút. Ông vừa đi, vừa cài lại nút lưng quần.  Bàn tay già nua lay hoay tìm mấy chiếc nút, ông gài lầm nút trên vào khuy dưới, thế là trống phần còn lại không gài được. Chiếc quần dài đậm màu, tả tơi đã đành, áo sơ mi xanh ông bận cũng rách nát. Không gài được nút quần,  cái quần lót màu xám lộ ra ngoài, cũng không có nút. Lồng ngực gầy gò, trắng nhợt, nút quần lót bị tung ra làm rõ những đám lông trắng bù xù. Ông đành chịu thua nút quần (phéc mo tuya--fly

 GRAMPA- Ông Nội

 vụng về cài nút quần lót, rồi bỏ cuộc, lo kéo cái dây treo màu nâu. Khuôn mặt gầy gò, nét phấn kích, đôi mắt nhỏ,  sáng tinh quái chẳng khác đôi mắt đứa con điên. Đó là một nét mặt gắt gỏng, than phiền, cũng là tinh nghịch cười đùa. Ông chống đối, cãi vả, lắm khi kể chuyện tục. Rõ ràng ông là một ông già dâm dật. Lẩn quẩn, dữ tợn, bồn chồn nóng nảy, chẳng khác gì đứa trẻ hư.  Tất cả tính chất kia gộp lại tạo nên hình ảnh "điên điên tàng tàng" cùng hài hước. Ông lại uống rượu nhiều nếu có, ăn rất nhiều nếu sẵn, sau hết là nói suốt ngày.

                                            GRANMA-Bà Nội

     Bà Nội khập khểnh theo sau lưng Ông. Người sống còn được là  nhờ vào tánh hung tợn chẳng kém Ông. Bà luôn giữ tín điều cùng lòng sùng đạo. Tánh khí  quái dị ngôn ngữ hung dữ nghe đinh tai nhức óc cùng đời sống  dâm dục, dã man ngang bằng chồng. Có lần, sau buổi gặp nhau, trong thời gian bà đang thực hành phép 'nói tiếng lạ' (speaking in tongues) bà bắn luôn hai băng đạn shotgun vào người chồng, khiến Ông gần đứt lìa một bên mông . Sau vụ đó Ông lại cảm phục bà và không còn dám hành hạ bà như trẻ con hành hạ con bọ nhỏ bé. Lúc đi, bà năng kéo cái váy Mẹ Hubbard lên tận đầu gối, vừa kêu như tiếng dê, âm thanh lạ lùng như tiếng khóc ré chói tai,

  -Pu raise Gawd fur vittory...
-----------------------------

Nói Tiếng Lạ (speaking in tongues)
thuật ngữ chỉ về một hiện tượng ngày nay được cho là nói một cách 'tự đông' hay' vô thức'. Người thực hiện 'nói tiếng lạ' speaks in tongues- không biết gì mình đang nói (có thể xem tương tự hình thức lên đồng của Việt Nam) họ có thể nói tiếng ngoại quốc mà họ chưa biết , hay một ngôn ngữ tự làm lấy, hay có thể trở về nói giọng thời con nít của người này.[http://www.urbandictionary.com/define.php?term=speaking+in+tongues]

-------------------------------------

    Hai ông bà lại tranh nhau bước qua đám vườn rộng. Chẳng lúc nào mà ông và bà nội không gây sự , mọi chuyện đều chống nhau.  Hai người yêu, thích, gây sự; nó thành một nhu cầu không thể thiếu. Pa và Noah chậm rãi theo sau. Noah, người anh cả, thân hình cao khác thuờng, bước đi vẻ mặt khác lạ, trầm, xen chút bối rồi. Trong đời, anh chưa biết nổi giận.  Anh cũng thấy lạ lùng với những ai nổi cơn thịnh nộ, ưa thắc mắc, khó khan. Lúc này anh nhìn họ y như  nhìn kẻ điên. Noah đi thật chậm, ít nói với ai.  Kiểu đi chậm đến nỗi ai không biết anh có thể lầm anh là thằng khờ nào đó. Thật ra Noah chẳng phải đần độn, chỉ ‘khác thuờng’ thôi. Tánh anh ít tự cao, ít đòi hỏi tình dục. Làm lụng, ngủ nghỉ tùy hứng (curious rhythm), nhưng Noah lại sống đủ. Anh yêu mến mọi người, nhưng tình cảm này chưa bao giờ thể hiện ra ngoài. Dầu không ai hiểu lý do, Noah luôn mang trong người ấn tượng về sự khác lạ của anh từ đầu, thân hình, tới chân và ngay cả trí óc; trong nhà chẳng ai còn nhớ lại những chuyên này. Cha anh hiểu lý do tại sao Noah biến dạng, nhưng Pa lại không nói cho ai vì xấu hổ.
                                                                      Noal 
    Đêm Noah ra đời, người cha một mình lo cho vợ.  Cha anh bấn loạn giữa tiếng la hét thất thanh của vợ, giữa hai đùi người đàn bà đang căng ra, lo âu đến điên người. Ông phải dùng bàn tay, những ngón mạnh bạo của mình thay thế kẹp, ông phải lôi, phải vặn mình đứa bé. Bà mụ tới quá trễ. Tới nơi bà đã thấy đấu hài nhi méo mó, cổ bị kéo dài, thân mình đứa trẻ lại biến dạng hẳn. Tuy nhiên, bà còn khả năng dùng tay ép đầu, chèn thân hình hài nhi lại như cũ. Tuy vậy Pa anh vẫn mãi nhớ, vẫn mãi hổ thẹn. Đó là lý do khiến ông cưng yêu Noah hơn mấy đứa khác. Trên khuôn mặt rộng của Noah, đôi mắt quá xa nhau, cái hàm dài yếu ớt làm Pa nhớ lại hình ảnh đầu đứa bé bị vặn, xương đầu méo mó lúc mới sinh . Noah có thể làm mọi việc ông nhờ, biết đọc và viết, làm việc và hình dung ra công việc, nhưng coi bộ anh chẳng tha thiết với gì; trong Noah là cả một sự hờ hững đối với những thứ mà người đời thèm khát, cần có. Anh sống yên lặng, khác lạ dưới  một mái nhà. Anh canh chừng, coi sóc, gia đình này qua đôi mắt bình thản. Anh là một người khác lạ đối với thế giới bên ngoài, nhưng anh không cô đơn.
    Bốn người đi qua sân, Ông Nội lên tiếng ngay:
-Thằng cháu đâu rồi, quỷ tha ma bắt mày (Goddamn it), nó đâu rồi?
    Miệng nói, tay ông vụng về tìm lại nút quần, lại lẩn lộn xỏ tay vào túi. Thấy Tom đứng tại cửa , Ông dừng lại làm ngáng ba người đi phía sau . Hai con mắt nhỏ ,tinh quái , của Nội Tom sáng lên:
   -Nhìn thằng cháu nè, nó như con chim giẻ bay xa, chẳng phải thằng Joads ở tù đâu nào !
   Ông  hăng hái:
  -Không có quyền gì bắt cháu ta vào tù. Nó làm y ta. Mấy thằng chó đẻ không có quyền gì hết.
   Trong đầu ông lại chuyển ngay qua ý khác, hăng hơn,
-Thằng già Turnbull hôi thúi đê tiện, hắn thật phách lối, cháu ta ra rồi đó, để xem hắn dám bắn không nào? hắn khoe hắn mang dòng máu Hatfield.  A !  ta nhắn hắn  'đừng lạng quạng (mess around) gần thằng Joad của ta. Có thể ta cũng mang dòng máu McCoy trong người ta đây nhé' ta nhắn tiếp ' mầy thử bám gần Tommy xem nào, ta sẽ tìm ra ngay và làm cho mầy một trận nên thân (ram it up your ass) Ta nhắn và còn làm hắn sợ.
   Bà Nội, không nghe lời nói trên, chỉ làm từng tràng như tiếng dê (bleated)
   -Pu-raise Gawd fur vittory…
  Nội Tom bước lên vỗ vào lồng ngực anh, ánh mắt ông long lanh mang đầy tình cảm cùng niềm tự hào về đứa cháu.
-Con khỏe không , Tommy ?
-OK. Tom trả lời...Nội sao, có khỏe không ?
-Ta rất khỏe (full a piss an'vinegar) .
Ý tưởng ông lại vụt qua chuyện khác :
- Chúng không sức nào giữ được thằng Joad trong tù!  'Tommy phá nó dễ như bò phá rào vậy' giờ cháu ta đã lọt ra đây này.
-Thôi tránh, ta đói lắm rồi.



    Ông chen qua mọi người, ngồi xuống, tự bỏ vào dĩa, nĩa cùng hai cái bánh bít quy thật lớn, đổ đầy một lớp sốt lên thức ăn, chưa ai vào bàn thì ông đã ăn đầy miệng .
Tom cười trìu mến :
              -Ông không còn 'quậy' nữa chớ ?
   Miệng ông tham ăn đầy quá nên không nói được, dù chỉ ấp úng, nhưng đôi mắt nhỏ bé tinh quái hình như  ‘đang cười’, đầu Ông gật lia lịa. Bà xen vào như muốn chọc tức:
          -Một tên hết thời, một tên bị rủa thì không sống nỗi. Ông già này chỉ còn xuống địa ngục theo con bài phé thôi. Lạy Chúa (Praise Gawd )! lại còn muốn lái xe tải .
Bà trêu thêm:
                -à.. à , ông không dám đâu .
  Ông nghẹn, miệng đầy bột phun vào vạt áo, xong ho một cách yếu ớt. Bà nhìn qua Tom cười:
          -Ông già bẩn thỉu quá, phải không cháu?
  Bà xem đó là hình ảnh thích thú.
    Noah lại gần, cặp mắt cách xa lạ lùng trên mặt  nhìn quanh người Tom. Chỉ một thoáng cảm xúc hiện lên khuôn mặt Noah.
Tom chào trước:
              -Khỏe không anh Noah?
              -Khỏe, Noah trả lời Tom...em khỏe không?
    Chỉ ngần ấy, nhưng cũng biểu lộ một không khí thoải mái. MÁ đưa tay đuổi ruồi đang bám vào tô nước sốt:
            -Nhà mình chẳng đủ chỗ để ngồi hết với nhau, thôi mỗi người hay cầm dĩa tìm quanh , ngoài sân hay góc nào đó tạm đi.

Bất ngờ, Tom kêu lên:

            -Ô! thầy đạo đâu rồi? Thầy mới đây, sao đâu mất rồi?
    Pa cũng ngạc nhiên:
                 -Pa mới thấy Thầy đây mà?
    Bà Nội vội quay lại, vẫn cái giọng chát chúa đó,
            -Cháu nói sao? Thầy giảng đạo ư? có cả thầy giảng đạo tới cùng con nữa ư? Đi tìm thầy ngay, hôm nay chúng ta cần một phép ân sủng mới được.

 Bà lại xỉa xói vào Ông Nội:

             -Ăn chậm quá đi, cái ông này, đứng dậy, tìm người thầy đạo mau nào.

    Tom bước vội ra cổng,

        -Ô, thầy Jim, Jim Casy ơi!  vừa gọi anh vừa bước nhanh ra sân. …

                Thầy Casy !!!...


                                                    Gia Đình Tom Joad trong phim

LỜI THUYẾT GIẢNG CỦA JIM CASY

      Thầy Casy đang nằm dưới tháp nước nghe tiếng Tom kêu vội nhổm dậy, xong đứng lên  trở lại ngôi nhà.

  Tom hỏi ngay:

                -Thầy tránh đi đâu vậy ?
                -Ồ không, ta nghĩ người ngoài không nên can dự vào (butt his head in) khi gia đình đang bàn bạc với nhau, ta ra bên ngoài kiếm một nơi để suy nghĩ vài điều thôi.
                -Mời thầy vào ăn với chúng con đi, Bà của con đang cần thầy giúp cho nhà con một phép ân sủng đó.
            -Nhưng ta đâu còn là một người thầy đạo nữa đâu, 
Ông từ chối.
            -Ôi, thầy cứ vào đi, hãy cho Bà Nội một phép ân sủng. Có hại gì đâu? Bà con thích lắm.

   Hai người trở lại nhà bếp.

                  -Chào thầy!

    Tiếng chào của MÁ nghe nhẹ nhàng.

   Pa tiếp lời:
              - Chào thầy, mời thầy ăn sáng.
              -Xin ban ân sủng trước đã, hãy ban ân sủng trước đã…
    Bà Nội ngắt ngang, giọng thật to.

    Đôi mắt Ông Nội soi bói, bắn tia nhìn dữ tợn xem người mới vào, đến lúc ông nhận ra thầy Casy:

              -Ô, thầy  !.. thầy vẫn vậy. Từ khi gặp thầy ta luôn mến thầy.

     Vừa chào, Ông vừa nheo mắt một cách phóng túng khiến bà xen ngay,
  -Im miệng!, con dê già tội lỗi kia (sinful ol'goat)

Ngón tay thầy Casy vuốt lại đầu tóc, e ngại:
                    -Ta xin nói với mọi người ta không còn là một người giảng đạo nữa. Ta thật vui mừng và thật cám ơn lòng tử tế cùng hào phóng của gia đình khi ta được mời vào, vậy là đủ rồi...tại sao vậy, ta cho đó ý nghĩa của ân sủng rồi. Thêm thay, ta không còn là một vị thầy nữa.
                -Xin thầy hãy ban đi, Bà nội năn nỉ...thầy hãy ban cho một lời về chuyến đi California cho cả nhà này.


        thầy Jim Casy khi không còn làm mục sư trong drama phim 1940

    Vị thầy đầu cúi xuống, và mọi người khác đồng loạt cúi đầu. Má xếp hai bàn tay trước bụng cùng cúi đầu. Bà Nội cúi đầu thấp nhất, đến nỗi mũi bà gần chạm chiếc dĩa bít -quy cùng nước sốt. Tom, dựa người vào vách, tay cầm dĩa, đầu hơi thấp ,  ông nội của Tom đầu lại ngoẹo về một bên để huớng một con mắt hứng khởi, thủ đoạn, vào người thầy. Khuôn mặt thầy giờ đây không mang sắc diện của một vị đang cầu nguyện, nhưng lại một nét mặt đăm chiêu; tiếng không mang âm huởng nguyện cầu, mà là một sự phỏng đoán gì đó:

              -Ta hằng suy nghĩ khi ta đi trên đồi, ta suy nghĩ tất cả những gì các vị nói, y như Đức Giêsu thường vào nơi hoang vu để ngộ ra con đường của NGÀI tìm cách thoát ra phiền lụy.

 -Pu-raise Gawd !  Bà nội lại cầu nguyện, thầy liếc nhanh về bà, vẻ ngạc nhiên.

                   -Coi như Giêsu đã chịu mọi phiền lụy mà ngài không thể thấu đáo. Ngài cảm nhận ra rằng thôi hãy bỏ cuộc khi cố công chạy theo điều quá toàn thiện, chớ lo thái quá vào chuyện tranh đấu và giải quyết hay lùng sục, tìm tòi. Để cuối cùng mệt lữ, có được cái tốt cũng mệt nhoài, và tinh thần của Ngài cuối cùng rã rời. Cuối cùng là gì, hãy buông xả đi. Và NGƯỜI đi ra khỏi nơi hoang vu đó.

  -Amen… bà nội kêu lên trước.

     Bao năm nay, bà là người đầu tiên chấm dứt buổi cầu kinh bằng chữ Amen này và cũng bấy nhiêu năm bà là người lắng nghe cùng thắc mắc từng lời kinh giảng.

              -Ta không dám nói ta giống đức Giêsu, thầy đạo tiếp tục...nhưng thật sự ta rất mệt mỏi vì phải giống Người. Ta bối rối khi đi trong hoang vu, không nhà cửa như Người. Ban đêm ta nằm nhìn trời cao, muôn vàn tinh tú; sáng lại ta ngắm ánh dương lên; giữa trưa ta đứng trên đồi nhìn cánh đồng đang gặp cơn nắng hạn; chiều về ta ngồi theo dõi ánh dương tàn (foller the sun down). Đôi khi ta cầu nguyện bình thường, có khi ta không tính được sự cầu nguyện này cho ai và vì cái gì nữa? Có mặt ta trên những ngọn đồi này, chúng ta không còn cách biệt. Chúng ta cùng là một, đó là lòng phụng sự Chúa.

-Halleljuah… bà nội kêu lên tiếng nói đặc biệt, chao động thân mình tới lui, cố hòa mình ngây ngất vào ý nghĩa câu trên.

             -Ta suy nghĩ lao lung về những điều khác, thâm trầm hơn ý nghĩ bình thường. Làm sao chúng ta một lòng phụng sự Chúa khi chúng ta cùng là một, làm sao loài người phụng sự Chúa khi loài người cùng là một. Và chỉ không còn phụng sự được Chúa khi một đứa nhỏ đáng thương kia bị tống  ra khỏi cuộc sống bình thường, bị đá, kéo lê, và phải vật vả chống cự. Lòng thánh thiện trong kẻ kia sẽ không còn. Nhưng khi mọi người cùng nhau làm việc, không phải một người đối với một người, mà toàn bộ mọi người đều được chế ngự, phải không? đó là phụng sự đức Chúa đó thôi.

    Vị thầy ngưng giảng, nhưng đầu mọi người vẫn cúi; chẳng lạ, họ từng được huấn luyện quen như những chú chó khi nghe "amen" mới được ngẩng lên.

                  -Ta không thể gọi đây là ân sủng. Ta vui khi do thánh thiện nằm trong bữa ăn sáng này. Ta rất vui do tình yêu chan chứa ở đây. Xin hết.

     Những cái đầu vẫn còn cúi xuống. Người thầy nhìn quanh:
              -Ta làm bữa sáng các người nguội lạnh hết trơn, chợt nhớ ra, ông chấm dứt:
                -AMEN
    Mọi người giờ mới bắt đầu ngẩng lên.
    -A--men,
    Nói lại tiếng trên, Bà vội ăn ngay. Hai cái hàm không răng già nua, cứng cáp dằn vụn miếng bít quy thấm nước. Tom ăn nhanh, Pa thì ngốn đầy miệng. Không ai nói gì cho đến lúc thức ăn và cà phê cạn sạch ; sót lại họa chăng là những miếng bánh đang nhai và ngụm cà phê đang trôi vào lưỡi. Má theo dõi vị thầy đang ăn, đôi mắt bà áng chừng đang thăm dò, thắc mắc, tìm hiểu. Ánh mắt bà xem chừng vị thầy không phải là người mà là bóng ma đột ngột vào nhà, giọng nói như từ lòng đất vọng lên.

  Cánh đàn ông ăn xong, đặt dĩa xuống bàn, uống hết ngụm cà phê cuối cùng; đàn ông bước ra trước: Pa, vị thầy, Noah, Ông Nội và Tom. Họ bước lại chiếc xe tải, chân tránh những đồ đạc vương vải, mấy tấm vạt giừong gỗ, bộ máy cái cối xay gió, cái cày cũ. Đến nơi, họ đứng cạnh chiếc xe, tay sờ vào mấy tấm ván thông hai bên hông nó.

    Tom mở mui xe nhìn vào bộ máy dính đầy mỡ. Pa đứng bên anh. Ông lên tiếng:
-Al. em con có xem xe trước khi nhà mình quyết định mua. Em nói chiếc xe này xem được.
Em con  biết gì đâu ba, hay tự cao lắm.
- Nó làm cho một công ty. Năm ngoái nó lái xe tải,  có thể biết một ít về máy móc . Em con là đứa tinh khôn,  còn biết cách sửa lại một bộ máy xe, Al. có khả năng đó con.
 Tom hỏi ngay:
-Thế thì nó biết ngang đâu nào ?
-Ồ !  Pa phân bua thêm… nó là con dê đực trong vùng . dám tự cắt tay mình vì tình , Tuổi mười sáu hắn từng nổi tiếng ranh ma, ngạo mạn ,nó là đứa dị kỳ, bướng bỉnh. Trong đầu nó chỉ có gái và máy móc thôi. Nhưng đầy tràn tính ngạo mạn, có khi suốt tuần đêm nào hắn cũng vắng nhà.
    Ông Nội giờ lại sờ soạng lên ngực gài lại hàng nút chiếc áo sơ mi xanh vào khuyu của cái quần lót. Ngón tay khám phá phần nào sự nhầm lẫn nhưng chẳng biết cách nào sửa đổi. Ngón tay lần nữa mò mẫm tìm chỗ gài lại nút cho đúng ở đai quần.
   -Ta thật tệ, ...ta quá xấu xa, là kẻ thật thô lậu, các người có thể nói thế. Sao vậy? Xưa cắm trại ở Sallisaw, ta còn trẻ còn nhỏ xấp xỉ tuổi Al Joad bây giờ, nhưng Al làm sao bằng ta vì hắn chỉ là đứa khù khờ,con nít, ta thì khôn ngoan hơn Al nhiều. Lúc đó khoảng năm trăm người trẻ tới cắm trại ở Sallisaw, toàn là thứ non nớt như sợi lông tơ con bò cái không bằng .
-Nội vẫn đáng sợ như xưa, Tom nhận xét
-Ùm, ta vẫn thế, nhưng ta không ưa gần con người ở đây nữa.. Hãy cho ta đi theo tới California, một nơi khi ta cần ăn trái cam, ta chỉ cần đưa tay ra hái. Nho cũng vậy, mấy thứ ta luôn khao khát. Nơi đó sẽ cho ta hái trong lùm ra cả bó nho, hãy loài trái khác, ép ra nước, ta sẽ xoa đều trên mặt , xong để chúng chảy ròng ròng xuống tận cằm .
                                                           Bác John
Tom chợt nhớ ra:
-Bác John đâu không thấy? Chị Rosaharn nữa? Hai em Ruthie và Winfield nữa? sao không nghe ai nhắc vậy ?
Pa giải thích:
-Có ai hỏi đâu? Bác John con bận đi Sallinsaw bán nhiều thứ nào bơm, nào dụng cụ, gà qué cùng mấy thứ chúng ta mang đến đây. Ruthie và Windfield đi cùng bác ấy. Tất cả ra đi khi trời chưa rạng.
-Ủa lạ, sao trên đường tới con không thấy mấy người này hả ba?
-Chuyện là vậy, con đi từ huớng xa lộ về đây, phải không ? Bác ấy đi huớng khác, huớng Cowlington. Còn chị Rosa đi 'xây tổ' bên gia đình Connie rồi. Con đúng là chưa hay chị Rosasharn lấy Connie Rivers cũng phải. Con nhớ Connie không? Anh chàng khá tử tế. Rosa có mang khoảng bốn năm tháng gì rồi . Bụng to lên thấy rõ, khá khỏe mạnh.
-Giêsu ơi, Tom ngạc nhiên...chị Rosa chỉ là cô gái nhỏ mới đâ, thế mà sắp có em bé rồi. Ba xa nhà bốn năm như con mới thấy chết khiếp bao chuyện lung tung trong nhà. Thế theo Ý Pa khi nào gia đình mình bắt đầu đi vậy?
-Ồ, nhà mình lo chuyện lấy đồ về bán đi. Nếu Al. bôi dầu quanh xe lần nũa, ba hi vọng sẽ em con sẽ chất hết đồ đạc trong nhà. Làm như thế, ngày mai hay mốt là chúng ta có thể khởi hành. Nhà mình không có nhiều tiền,  gã bạn cho biết đường đây qua California  xa tới hai ngàn dặm. Khởi hành nhanh chừng nào thì tới đó càng chắc hơn. Càng nấn ná lâu tiền bạc sẽ càng hao thêm. Con có đồng nào không ?
-Con chỉ có vài ba đô thôi. Lúc này làm sao Pa kiếm tiền vậy?
-Ồ, Pa thố lộ...gia đình bán hết đồ tại nơi đây, mọi người đi làm cỏ cho đồn điền trồng bông (chopping cotton), ông Nội cũng đi làm.
-Đúng- ông cũng đi làm, Nội Tom chen vào.
-Mọi thứ nhà ta kiếm ra khoảng hai trăm đô la. Chiếc xe này ngốn hết bảy mươi lăm, Pa và Al tốn công cắt hai nó ra để chế thành chiếc xe tải. Al hứa sẽ chỉnh lại mấy cái van trong bộ máy nhưng nó còn la cà đi chơi chưa về để lo cho xe. Khi ra đi chúng ta hi vọng có trong tay một trăm rưỡi đồng . Lốp cũ rích như xe này chắc không ‘lết’ được xa đâu. Cần thay hai cái lốp hư, nhưng theo Pa chúng ta tìm mua trên đường cũng được.
    Mặt trời chiếu thẳng xuống những tia nắng hừng hực. Bóng Chiếc xe chỉ còn một cột đen thẩm trên nền đất. Mùi dầu, mùi vải dầu, mùi sơn mới, bốc lên nồng nặc. Mấy con gà rời sân tránh nắng, tìm bóng im dưới mái lều đựng đồ.Mấy chú lợn đang thở hồng hộc trong chuồng, cạnh hàng rào nơi chỉ còn bóng im mỏng dính , chúng thỉnh thoảng rên lên ư ử. Cặp chó giờ đang duỗi thân mình lên lớp đất đỏ dưới gầm xe,  hồng hộc thở, hai cái lưỡi bám đầy bụi, nước dãi nhỏ giọt. Pa kéo thấp vành mũ che bớt mắt, xong ngồi xổm xuống trên hai đùi mình. Tư thế ngồi này, có thể là tư thế tự nhiên nhất mỗi khi cần suy nghĩ, quan sát. Ông hỏi lại Tom rất kỹ về cái mũ mới nhưng đã  cũ , bộ áo quần và ngay cả đôi giày mới của anh.
-Áo quần mới này con mua hả? Ông hỏi.
-Áo quần mới chắc tốn tiền (be a nuisance) con nhiều lắm .
-Họ cho con áo quần mới khi ra tù Pa ạ. nói xong anh dở mũ , nhìn nó có phần thích thú, xong anh dùng chiếc mũ lau mồ hôi trên trán, xong tay kéo cái lưỡi trai anh đội lại nghiêng nghiêng trên đầu .
Pa ngắm nghía:
            -Đôi giày khá đẹp , họ cho con chứ ?
                -Đúng đó Pa, khá đẹp nhưng con không đi đôi giày mới giữa trời nắng nóng thế kia.

   Tom ngồi xổm, bên cạnh cha.
   Noah giờ lên tiếng, anh nói chậm:

            -Nếu xe có thành bên, thì nhà mình chất đồ lên được rồi. Làm trước, đến khi Al về thì kịp.
            -Con lái xe này được mà. Ở nhà tù MaAlester con có lái xe tải.

-Ô hay quá ! Pa mừng rỡ, bỗng ông chăm chú nhìn ra đường.

            -Nếu Pa không lầm thì thằng con ngạo mạn tự cao giờ này đang đi thất thểu (draggin' his tail) về nhà, trông kìa bộ dáng rách nát thê thảm thế kia?!

 Randy Al
     Tom và người thầy nhìn ra đường. Randy Al vừa xuất hiện, đang ưỡn người đi vào sân, dáng vênh váo tự đắc y con gà trống đối với con quạ.  Vẻ mặt tự phụ anh tới gần chiếc xe cho đến lúc vừa kịp nhận ra Tom. Nét mặt tự phụ kia biến mất, sự kính trọng cùng cảm phục một người anh tức khắc trở lại trong ánh mắt, dáng điệu vênh váo cũng mất theo. Cái quần Jean thẳng tắp cùng lai dưới xăn lên đúng 8 phân để lộ đôi giày cao cổ, chiếc nịt to bản 3 phần kèm theo phần búp nịt đồng. Dù chiếc áo sơ mi xanh của anh ta mang băng tay đỏ, và chiếc mũ hiệu Stetson, vẻ phóng đảng anh chàng đang đội, cũng không xây được tầm vóc ngang với người anh trai, người dám giết người mà chẳng ai quên Al cũng biết được có vài thằng trong đám bạn bắt đầu nể nang anh do anh trai của anh dám giết người. Ở Sallisaw anh còn nghe tiếng xầm xì người ta chỉ vào Al:

        -Thằng Al Joad đó. Hắn có thằng anh đã cầm xẻng đánh chết người đó.

   Al khiêm tốn đi lại. Điều Al nhìn ra đầu tiên là người anh trai mình không vênh váo như anh tưởng tượng . Trong đôi mắt anh trai có nét gì buồn bả, tư lự, một sự im lặng đầy chịu đựng, một khuôn mặt thản nhiên từng tự rèn luyện tỏ vẻ bình thuờng trước mắt cai tù, không chống đối nhưng cũng không khuất phục. Trong phút giây, Al thay đổi tất cả. Trong vô thức, anh bắt đầu thích người anh mình, anh thích nét mặt buồn phảng phất cùng đôi vai thư giãn kia. Anh không nhớ trước đây anh Tom mình thế nào nữa.

   Tom lên tiếng trước:

-Chào Al. Chúa ôi, em lớn nhanh như thổi vậy đó (like a bean), nhìn không ra em luôn. Tay Al sẵn sàng cho Tom bắt, cố tạo nụ cười thật to. Tay Tom và Al cùng chìa ra nắm lấy nhau. Hai người mãi nắm tay nhau.
            -Trong nhà mách, em là tay lái xe tải cừ  lắm.

Ngang đây, Al hiểu thêm rằng anh mình không là người khoe khoang chút nào:

-Em biết chút chút thôi, không giỏi lắm đâu.
Pa lên tiếng:
            -Con từng cao ngạo khắp với mọi người. Giờ xem tơi tả thế kia. Nào, con phải lấy mớ đồ đạc trong nhà đi Sallisaw bán giúp đi nào?

Al nhìn Tom:

            -Anh có muốn đi cùng em không?

lời mời hiếm hoi phát ra từ miệng Al.

                -Anh không đi được, anh phải giúp ít việc quanh đây, chúng ta lên đường thì tha hồ chơi với nhau mà.

Al cố gắng làm chủ câu hỏi của mình:

            -Có phải...có phải anh vượt ngục không ?

            -Không phải đâu em, anh được làm cam kết .

            -Ô hay quá!

Nhưng có chút gì thất vọng trong Al.


                  

              HẾT
Edition  12/7/2025


-

No comments:

Post a Comment